85 năm Ngày Bác Hồ về nước: Sự kiện bản lề đưa Cách mạng Việt Nam tới thắng lợi
- 10:01 - 07.01.2026
Từ quyết định rời Tổ quốc năm 1911 đến ngày trở về Pác Bó đầu năm 1941, Hồ Chí Minh đã đi tìm con đường giải phóng dân tộc, chuẩn bị nền tảng tư tưởng, tổ chức và thời cơ cho cách mạng Việt Nam.
Bối cảnh lịch sử
Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 2/9/1969) sinh tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An) trong một gia đình nhà nho yêu nước. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, ngày 5/6/1911, Người rời bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua nhiều năm sống và hoạt động ở nước ngoài, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc.
Trong những năm tháng bôn ba nơi đất khách, dù hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều châu lục, Người luôn theo dõi sát tình hình trong nước, tập trung truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; đồng thời chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng.

Từ ngày 3–7/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tạo bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Sau đó, dù tiếp tục hoạt động trong điều kiện vô cùng gian nan, Người vẫn một lòng hướng về Tổ quốc, đau đáu tìm thời cơ trở về để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước.
Đầu năm 1940, tình hình thế giới biến động mau chóng. Ngày 15/6/1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp; một ngày sau, quân Đức tiến vào Thủ đô Paris; đến 22/6/1940, Chính phủ Pétain chấp nhận đầu hàng. Trước tình hình đó, Người nhận định: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng.”
Ngày 28/01/1941, Người vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay thuộc xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên vì nhận định đây là vùng đất hội tụ đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Từ ngày 08/02/1941, Người chuyển đến hang Cốc Bó (thôn Pác Bó) để sống và làm việc.
Những hoạt động chính của Bác Hồ tại Cao Bằng
1. Triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám
Ngay sau khi trở về Pác Bó, từ ngày 10–19/5/1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 tại lán Khuổi Nậm (Pác Bó, xã Trường Hà), với sự tham dự của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và đại biểu hoạt động ở nước ngoài.
Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị nhất trí giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định rõ kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc bấy giờ; tiếp tục hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, trước mắt chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian, chia lại ruộng công, giảm tô; sau này tiến lên thực hiện đầy đủ chính sách “người cày có ruộng”.
Hội nghị cũng quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước; tại Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). Về chính quyền, Hội nghị chỉ rõ cần đoàn kết toàn dân để lập chính phủ dân chủ cộng hòa. Về khởi nghĩa vũ trang, Hội nghị khẳng định cuộc cách mạng phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, đồng thời phân tích điều kiện khách quan – chủ quan, nhấn mạnh không ỷ lại vào yếu tố bên ngoài, chú trọng xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ. Hội nghị kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư và củng cố hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở.
2. Thành lập Mặt trận Việt Minh, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Xác định đại đoàn kết toàn dân là nhân tố quyết định, ngay khi về nước, Người chỉ đạo thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp các tầng lớp Nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc, kiểm nghiệm và hoàn thiện phương pháp tổ chức trước khi mở rộng ra cả nước. Phong trào nhanh chóng triển khai ở một số địa bàn trọng điểm của Cao Bằng và lan tỏa với nhiều tổ chức cứu quốc: thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, nhi đồng…
Từ thực tiễn thí điểm, tháng 4/1941, Hội nghị cán bộ Cao Bằng họp rút kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận Việt Minh. Trên cơ sở đó, đến ngày 19/5/1941, Hội nghị Trung ương 8 quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh.
Cùng với xây dựng Mặt trận, Người đặc biệt coi trọng công tác vận động quần chúng và liên lạc với Trung ương ở miền xuôi. Người chỉ đạo khẩn trương thiết lập các “con đường quần chúng” từ Cao Bằng về miền xuôi; mở rộng phong trào “Nam tiến” để tạo kết nối từ Cao Bằng sang Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang; nối liền các căn cứ, phát triển phong trào cách mạng ở Việt Bắc gắn với phong trào cả nước, tạo điều kiện cho sự ra đời của Khu giải phóng sau này.
3. Huấn luyện, đào tạo cán bộ; phát triển công tác tuyên truyền
Song song với xây dựng cơ sở quần chúng, Người trực tiếp chỉ đạo mở các lớp huấn luyện phù hợp từng đối tượng cán bộ, nhất là thanh niên; nội dung thiết thực, đi từ dễ đến khó, từ trước mắt đến lâu dài; kết hợp bồi dưỡng lý luận với rèn luyện thực tiễn, nhấn mạnh đạo đức cách mạng.
Trên mặt trận tuyên truyền, tháng 8/1941, báo Việt Nam Độc lập do Người trực tiếp phụ trách được xuất bản, kiên trì vạch trần tội ác của đế quốc và tay sai, cổ vũ đoàn kết cứu nước. Khi thời cơ Tổng khởi nghĩa đến gần, tháng 5/1945, Người quyết định chuyển trung tâm lãnh đạo từ Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi chỉ đạo phong trào toàn quốc; chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc; thống nhất lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân, kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ý nghĩa của sự kiện
Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam: giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới Tổng khởi nghĩa và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việc Người trở về Tổ quốc đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước và tiến trình đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Người cùng Trung ương Đảng hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, quy tụ lực lượng toàn Đảng, toàn dân vào mục tiêu cao nhất là giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay Nhân dân. Từ đó, phong trào đấu tranh được thúc đẩy mạnh mẽ trên phạm vi cả nước; đồng thời hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển quyết định của cách mạng.
Sự kiện này cũng để lại nhiều bài học có giá trị lâu dài, nổi bật là: xây dựng căn cứ địa và lực lượng cách mạng; dự báo và đánh giá đúng tình hình để kịp thời chuyển hướng chiến lược, sách lược; xác định đúng “thời cơ” và nhiệm vụ trọng tâm; xây dựng “thế trận lòng dân”; tập hợp lực lượng trong một mặt trận thống nhất rộng rãi; xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng—những bài học vẫn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
